Trong chiều hướng hội nhập mạnh mẽ như hiện nay, các công ty, tập đoàn lớn hơn lúc nào hết cần nguồn nhân lực chất lượng cao tại chỗ, và nhu cầu này càng ngày càng tăng.

Trên thực tế, theo các chuyên gia trong lĩnh vực nhân sự, dù được đánh giá cao về tốc độ và tiềm năng phát triển, nhưng nguồn nhân lực Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với khoảng cách tri thức nội địa – quốc tế.

Thiếu kỹ năng toàn cầu

Trong nhiều năm liền, nền kinh tế Việt Nam luôn giữ được mức tăng trưởng khá tốt, dao động 6-7%. Các tổ chức tài chính và tham mưu kinh tế thế giới như Goldman Sachs và PriceWaterhouseCoopers còn dự báo, đến năm 2025, Việt Nam sẽ vươn đến top 20 nền kinh tế mạnh mẽ nhất thế giới.

Tuy nhiên, khi nền kinh tế hội nhập sâu thì câu chuyện về năng lực của nguồn nhân sự quản lý trong nước lại là điều đáng lo ngại. Theo nhận định của nhiều cộng đồng doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam (Eurocham, Amcham, JBAV…), các doanh nghiệp quốc tế khi tiếp cận với nền kinh tế Việt Nam thường vấp phải rào cản về năng lực quản lý nguồn nhân lực tại chỗ.

Ví dụ, một nghiên cứu của Viện Nhân lực ngân hàng – tài chính trong năm 2014 chỉ ra rằng trong bốn năm tới, khoảng 13.000 sinh viên tốt nghiệp ngành tài chính – ngân hàng không xin được việc. Hiện tại, có khoảng 40% sinh viên tốt nghiệp các ngành liên quan không xin được việc hoặc làm trái ngành đã học, đồng nghĩa với việc không hội nhập được với tiêu chuẩn hiện nay.

Không riêng ngành ngân hàng, các ngành nghề khác như dệt may, vận tải hàng hóa, địa chất, quản trị kinh doanh… cũng thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao.

Các nghiên cứu phát triển kinh tế trong, ngoài nước cũng thường xuyên đề cập đến vấn đề tuyển dụng và kinh phí đào tạo lại đối với nhân sự quản lý tại Việt Nam.

Nguyên nhân của tình trạng trên, theo Tổ chức nghiên cứu toàn cầu TNS, do hệ thống đào tạo chuyên ngành kinh doanh chưa chú trọng đến các kỹ năng quản trị cần thiết cho các thử thách trong môi trường kinh doanh toàn cầu…

Giải pháp “lấp đầy” khoảng cách

Hiện là giám đốc một doanh nghiệp tại quận 6 (TP.HCM), ông Hiếu vẫn dành ra ngày cuối tuần để đi học lớp huấn luyện quản trị kinh doanh tại Viện Quản lý Kinh doanh Quốc tế – IBM (quận Tân Bình, TP.HCM).

Theo ông Hiếu, việc học giúp ông tăng khả năng quản lý doanh ngiệp đồng thời đạt mục tiêu hoàn thành một chương trình đào tạo sau đại học quốc tế.

“Tôi đánh giá cao những người tham vọng cầu tiến và tầm nhìn hội nhập kinh tế. Học cho mình và cho cả doanh nghiệp”, ông Hiếu nói.

Để khắc phục những hạn chế về nguồn nhân lực, Nhà nước đã và đang khuyến khích các mô hình giáo dục đại học và sau đại học về quản lý kinh doanh có yếu tố nước ngoài. Trên thực tế, các chương trình liên kết, quốc tế toàn phần ngày càng gia tăng về số lượng lẫn chất lượng.

Tuy nhiên, bản thân quá trình quốc tế hóa đào tạo cũng có những hạn chế riêng đối với các chuyên đề quản trị kinh doanh, đặc biệt là khoảng cách về văn hóa học tập, nền tảng kiến thức khác biệt và kỹ năng ngôn ngữ. Vì vậy, mặc dù sở hữu nguồn kiến thức và phương pháp tốt, nhiều chương trình quốc tế vẫn chưa truyền tải được một cách hiệu quả đến từng đối tượng.

Các nghiên cứu đào tạo trong năm 2014 cho thấy, hơn 90% đối tượng tham gia chương trình đào tạo có yếu tố quốc tế tại TP.HCM yêu cầu sự kết hợp linh hoạt hơn nữa về nội dung và phương pháp giảng dạy. Bởi chỉ có dưới 30% trong nhóm đối tượng này nhận định chương trình đang theo học là “hữu dụng” và “phù hợp với khả năng”.

Một giảng viên tại Viện IBM cho rằng, các tổ chức huấn luyện, bồi dưỡng với vai trò “cầu nối” nghiên cứu và chuyển giao khoa học sẽ là giải pháp giúp “lấp đầy” những khoảng cách này.

Ông giải thích về cách làm có thể đưa đến hiệu quả thiết thực: “Ngoài nội lực tổng hợp nguồn kiến thức chuyên ngành đang được sử dụng trong nước, tổ chức huấn luyện, bồi dưỡng…, chúng tôi hợp tác nghi